Khoảng trống phía sau những dự án FDI tỷ USD
Hơn 16,6 tỷ USD vốn FDI đã tạo nền tảng cho Hà Tĩnh phát triển công nghiệp quy mô lớn. Nhưng phía sau những nhà máy tỷ USD, mức độ tham gia của doanh nghiệp địa phương vào chuỗi cung ứng vẫn là khoảng trống cần lấp đầy.
Tăng trưởng cao, liên kết chưa tương xứng
Hơn 70 dự án FDI với tổng vốn đăng ký trên 16,6 tỷ USD đã đưa Hà Tĩnh trở thành một cực công nghiệp tại Bắc Trung Bộ. Trọng tâm là khu kinh tế Vũng Áng, nơi các dự án luyện kim, năng lượng và chế biến, chế tạo góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế, mở rộng sản xuất và tạo động lực tăng trưởng cho địa phương.
Trong 9 tháng năm 2026, GRDP Hà Tĩnh tăng 12,36% so với cùng kỳ; chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 40,15%. Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu cùng kỳ đạt khoảng 1,42 tỷ USD, giảm 4,57%. Những chỉ số này phản ánh các chiều vận động khác nhau của nền kinh tế, chưa đủ để kết luận về hiệu quả lan tỏa của FDI, nhưng cho thấy cần nhìn sâu hơn vào cấu trúc tăng trưởng thay vì chỉ dựa vào sản lượng công nghiệp.

Khu kinh tế Vũng Áng – động lực tăng trưởng công nghiệp của Hà Tĩnh.
Giá trị của FDI không chỉ nằm ở vốn đăng ký, công suất nhà máy hay số việc làm trực tiếp, mà còn ở mức độ doanh nghiệp sở tại tham gia vào quá trình sản xuất. Khi doanh nghiệp địa phương có thể cung ứng vật liệu, linh kiện, thiết bị và dịch vụ kỹ thuật, đồng thời từng bước làm chủ tiêu chuẩn công nghệ, dòng vốn đầu tư sẽ tạo thêm năng lực sản xuất cho nền kinh tế bản địa. Ngược lại, nếu phần lớn đầu vào được mua từ bên ngoài, doanh nghiệp trong tỉnh chủ yếu tham gia những khâu đơn giản hoặc các hợp đồng ngắn hạn, tác động lan tỏa khó tương xứng với quy mô đầu tư.
Thông tin từng được công bố về liên kết FDI tại Hà Tĩnh dẫn kết quả khảo sát của Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) cho biết chỉ khoảng 6% doanh nghiệp địa phương có liên kết với khu vực FDI hoặc tham gia xuất khẩu trực tiếp, gián tiếp thông qua doanh nghiệp FDI. Con số này cần được xem xét trong phạm vi và phương pháp khảo sát cụ thể, nhưng là dấu hiệu đáng chú ý về độ rộng của mạng lưới liên kết.
Khoảng trống lớn hơn nằm ở dữ liệu về giá trị mua sắm tại chỗ, quy mô hợp đồng với doanh nghiệp địa phương và số nhà cung ứng tham gia thường xuyên. Thiếu những chỉ tiêu này, hiệu quả lan tỏa của FDI khó được đánh giá đầy đủ.
Từ một đơn hàng đến vị trí trong chuỗi cung ứng
Một số doanh nghiệp Hà Tĩnh đã tham gia cung ứng vật liệu, sản phẩm cơ khí và dịch vụ cho các dự án FDI. Tuy nhiên, có hợp đồng với doanh nghiệp nước ngoài chưa đồng nghĩa với việc trở thành mắt xích ổn định trong chuỗi cung ứng. Khoảng cách giữa một đơn hàng riêng lẻ và quan hệ hợp tác dài hạn nằm ở khả năng duy trì chất lượng, đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật, bảo đảm tiến độ và đầu tư đủ lớn cho sản xuất.

Hạ tầng cảng biển Vũng Áng tạo lợi thế thu hút đầu tư vào Hà Tĩnh.
Công ty TNHH Thương mại và Dịch vụ vận tải Viết Hải là trường hợp cho thấy doanh nghiệp địa phương có thể mở rộng hoạt động từ những nhu cầu thiết yếu của quá trình công nghiệp hóa. Từ lĩnh vực kinh doanh vật liệu xây dựng, doanh nghiệp phát triển sản xuất và tham gia cung ứng cho các công trình công nghiệp quy mô lớn, trong đó có các hạng mục phục vụ quá trình xây dựng Formosa Hà Tĩnh.
Tháng 12/2025, Viết Hải ký biên bản hợp tác với Công ty TNHH TBM của Nhật Bản và nhà máy nhiệt điện Vũng Áng II nhằm nghiên cứu, phát triển các sản phẩm vật liệu từ carbon. Hướng hợp tác này mở ra khả năng chuyển từ cung ứng sản phẩm thông thường sang nghiên cứu, phát triển sản phẩm có yêu cầu kỹ thuật cao hơn. Tuy nhiên, biên bản hợp tác mới là bước khởi đầu. Giá trị thực chất cần được đánh giá qua khả năng thương mại hóa sản phẩm, hình thành hợp đồng ổn định và duy trì năng lực công nghệ trong sản xuất.
Ở lĩnh vực cơ khí công nghiệp, Công ty Cổ phấn Cơ khí công nghiệp Đức Tài từng cung cấp chi tiết máy cho Công ty TNHH Gang thép Hưng Nghiệp Formosa Hà Tĩnh. Theo thông tin đã công bố, quy mô đơn hàng còn hạn chế, doanh nghiệp chưa nhận được sự chuyển giao công nghệ và hỗ trợ kỹ thuật đáng kể từ đối tác.
Ở chiều ngược lại, các tập đoàn FDI thường vận hành hệ thống mua sắm theo tiêu chuẩn riêng, gắn với mạng lưới nhà cung cấp đã được đánh giá và kiểm soát chất lượng. Việc lựa chọn đối tác phụ thuộc vào giá thành, độ ổn định của sản phẩm và khả năng bảo đảm nguồn cung, chứ không chỉ ở khoảng cách địa lý. Doanh nghiệp địa phương chưa đáp ứng được các điều kiện này khó có thể cạnh tranh chỉ bằng lợi thế ở gần nhà máy.
Vì vậy, không thể quy toàn bộ khoảng cách liên kết cho sự thiếu năng lực của doanh nghiệp nội địa, cũng không thể mặc định nhà đầu tư FDI phải mua hàng tại chỗ bằng mọi giá. Doanh nghiệp trong tỉnh cần đầu tư công nghệ, chuẩn hóa quy trình và nâng chất lượng quản trị; nhà đầu tư cần minh bạch hơn về nhu cầu mua sắm, tiêu chuẩn nhà cung cấp và những nhóm sản phẩm có khả năng phát triển nguồn cung trong nước. Chính quyền phải tháo gỡ các điểm nghẽn về thông tin, vốn, kiểm định, nhân lực kỹ thuật và kết nối thị trường.
Đo hiệu quả FDI bằng giá trị ở lại địa phương
Định hướng thu hút FDI đang chuyển từ ưu tiên quy mô vốn sang chất lượng, công nghệ và hiệu quả lan tỏa. Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đặt trọng tâm vào nâng cao chất lượng dòng vốn, thúc đẩy chuyển giao công nghệ và tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI với khu vực kinh tế trong nước. Với Hà Tĩnh, yêu cầu đặt ra là cụ thể hóa định hướng này bằng những cơ chế có thể đo lường.

Trước hết, tỉnh cần xây dựng bức tranh đầy đủ hơn về hoạt động mua sắm của các dự án FDI đang vận hành. Dữ liệu phải phân biệt hàng hóa, dịch vụ mua từ doanh nghiệp tại Hà Tĩnh với hàng mua từ doanh nghiệp ở địa phương khác và hàng nhập khẩu. Đồng thời với đó là phải tách hợp đồng phục vụ xây dựng ban đầu khỏi hợp đồng cung ứng trong giai đoạn vận hành. Hợp đồng xây dựng có thể tạo doanh thu lớn trong thời gian ngắn, trong khi hợp đồng cung ứng thường xuyên phản ánh rõ hơn khả năng tham gia lâu dài vào chuỗi sản xuất.
Trên cơ sở đó, cơ quan quản lý có thể xác định những nhóm sản phẩm, dịch vụ có tiềm năng phát triển nguồn cung tại tỉnh, từ vật liệu, cơ khí đến vận tải và bảo trì thiết bị. Nhu cầu của nhà đầu tư cần được đối chiếu với năng lực doanh nghiệp; hỗ trợ về máy móc, chứng nhận chất lượng, quản trị và nhân lực nên tập trung vào những thiếu hụt cụ thể.
Hiệu quả lan tỏa cần được theo dõi định kỳ qua tỷ lệ mua sắm tại chỗ, giá trị hợp đồng, thời gian duy trì quan hệ cung ứng, số doanh nghiệp đạt chuẩn và những trường hợp tham gia cải tiến kỹ thuật hoặc phát triển sản phẩm. Việc đo lường không nhằm áp đặt nghĩa vụ mua hàng thiếu tính cạnh tranh lên doanh nghiệp FDI, mà để nhận diện cơ hội nội địa hóa khả thi và hỗ trợ doanh nghiệp trong tỉnh nâng năng lực.
Về dài hạn, liên kết FDI phải gắn với chiến lược nâng cấp doanh nghiệp địa phương: từ cung ứng vật liệu đến sản xuất linh kiện, từ gia công theo yêu cầu đến tham gia phát triển sản phẩm. Mỗi bước tiến đòi hỏi đầu tư về công nghệ, nhân lực và quản trị, cùng môi trường hợp tác minh bạch.
Hà Tĩnh đã tạo dựng nền tảng công nghiệp đáng kể nhờ dòng vốn FDI và hạ tầng khu kinh tế. Nhưng quy mô đầu tư mới chỉ là điều kiện ban đầu. Năng lực phát triển dài hạn phụ thuộc vào khả năng chuyển lợi thế ấy thành sức cạnh tranh của doanh nghiệp bản địa, để giá trị từ quá trình công nghiệp hóa không chỉ thể hiện trong sản lượng của các nhà máy mà còn được tích lũy trong hệ thống doanh nghiệp tại chỗ.
Trong cuộc đua tăng trưởng hai con số, thu hút thêm dự án vẫn là nhiệm vụ quan trọng. Song tăng trưởng chỉ thực sự bền vững khi đi cùng quá trình nâng cấp năng lực sản xuất của nền kinh tế sở tại. Với Hà Tĩnh, khoảng trống phía sau những tỷ USD FDI không thể được lấp đầy chỉ bằng các cam kết đầu tư mới, mà bằng những hợp đồng cung ứng thực chất, năng lực công nghệ được hình thành và những doanh nghiệp địa phương đủ sức lớn lên cùng các dự án công nghiệp quy mô lớn.
Châu Anh
Bình luận