Hãy là người đầu tiên thích bài này

Gỡ nút thắt “đầu ra” để đưa chip Việt ra thị trường

Việt Nam đã hình thành những nền tảng ban đầu trong thiết kế, nghiên cứu và thu hút đầu tư bán dẫn. Tuy nhiên, để chip do kỹ sư trong nước phát triển đi vào sản xuất thương mại, bài toán cấp thiết là tìm được khách hàng, tạo môi trường thử nghiệm và kết nối nghiên cứu với nhu cầu của doanh nghiệp. Thị trường đầu ra sẽ quyết định khả năng chuyển hóa tiềm lực công nghệ thành năng lực công nghiệp.

Gỡ nút thắt “đầu ra” để đưa chip Việt ra thị trường

Muốn làm chủ chip bán dẫn, phải tạo được thị trường. Ảnh minh họa.

Chip chuyên dụng cần thị trường dẫn dắt

Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, năm 2025, ngành công nghiệp bán dẫn Việt Nam đạt doanh thu hơn 21 tỷ USD, thu hút trên 14 tỷ USD vốn đầu tư nước ngoài với hơn 240 dự án. Cả nước có khoảng 60 doanh nghiệp thiết kế vi mạch và hơn 7.000 kỹ sư thiết kế bán dẫn. Những con số này cho thấy Việt Nam đang từng bước tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị bán dẫn toàn cầu, đặc biệt ở các công đoạn thiết kế, đóng gói, kiểm thử và nghiên cứu phát triển.

Dù vậy, quy mô doanh thu và vốn đầu tư chưa phản ánh đầy đủ năng lực làm chủ công nghệ của doanh nghiệp nội địa. Phần lớn hoạt động sản xuất, kinh doanh hiện vẫn gắn với chuỗi cung ứng của các tập đoàn nước ngoài. Trong khi đó, doanh nghiệp Việt Nam muốn thương mại hóa sản phẩm thiết kế trong nước phải vượt qua nhiều khâu tốn kém: chế tạo thử, đo kiểm, đánh giá độ tin cậy, hoàn thiện phần mềm và tích hợp chip vào thiết bị hoàn chỉnh.

Ông Nguyễn Anh Tuấn, Giám đốc Trung tâm quốc gia hỗ trợ sản xuất thử chip bán dẫn, chỉ ra rằng chi phí nghiên cứu và phát triển lớn, chuỗi sản xuất trong nước chưa hoàn chỉnh khiến doanh nghiệp gặp khó khi đưa sản phẩm ra thị trường. Với những đơn hàng nhỏ, việc tiếp cận dịch vụ chế tạo, đóng gói và kiểm thử ở nước ngoài còn tốn kém. Một mẫu chip sau khi hoàn thành thiết kế vẫn cần trải qua nhiều vòng đánh giá trước khi có thể được khách hàng chấp nhận.

Khoảng cách giữa phòng nghiên cứu và thị trường còn thể hiện ở nghịch lý là doanh nghiệp thiết kế cần khách hàng để có nguồn lực hoàn thiện sản phẩm, trong khi khách hàng muốn nhìn thấy sản phẩm đã được kiểm chứng trước khi đặt mua. Nếu thiếu cơ chế thử nghiệm và đơn hàng ban đầu, sản phẩm có thể dừng lại ở dạng nguyên mẫu, chưa tạo ra doanh thu để tái đầu tư cho nghiên cứu.

Phát triển chip chuyên dụng được xem là hướng đi phù hợp với điều kiện và năng lực hiện nay. Đây là những dòng chip giải quyết một yêu cầu cụ thể trong từng sản phẩm, ngành nghề, chẳng hạn chip xử lý hình ảnh cho camera AI, chip điều khiển UAV và robot, chip bảo mật phần cứng, cảm biến IoT hoặc chip quản lý năng lượng. Lựa chọn phân khúc rõ ràng giúp doanh nghiệp xác định khách hàng, tiêu chuẩn kỹ thuật và quy mô thị trường ngay trong quá trình nghiên cứu.

Bộ Khoa học và Công nghệ đang hoàn thiện hồ sơ trình Thủ tướng Chính phủ ban hành danh mục chip chuyên dụng thuộc các ngành, lĩnh vực Nhà nước ưu tiên đặt hàng. Dự thảo gồm 20 nhóm chip, tập trung vào AI và điện toán biên; viễn thông và vô tuyến thế hệ mới; cảm biến, tự hành và IoT; năng lượng, điện tử công suất; bảo mật phần cứng và mã hóa. Danh mục này có thể tạo tín hiệu nhu cầu cho doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học, giúp định hướng nguồn lực vào những sản phẩm có khả năng ứng dụng cụ thể.

Tuy nhiên, danh mục ưu tiên chỉ phát huy tác dụng khi đi kèm yêu cầu kỹ thuật, kế hoạch mua sắm và cơ chế đánh giá minh bạch. Cơ quan nhà nước, doanh nghiệp sản xuất thiết bị cần công bố bài toán công nghệ, điều kiện thử nghiệm và nhu cầu dự kiến. Nhóm nghiên cứu có thể tham gia ngay từ khâu xác định cấu hình chip, thay vì phát triển sản phẩm theo giả định rồi mới tìm nơi tiêu thụ.

TS. Đặng Minh Tuấn, Phó Chủ tịch cấp cao Tập đoàn Công nghệ CMC, Viện trưởng Viện Nghiên cứu ứng dụng Công nghệ CMC, nhận định khách hàng đầu tiên là một trong những nút thắt lớn nhất của chip Việt Nam. Theo ông, doanh nghiệp sản xuất thiết bị thường thận trọng khi sử dụng một dòng chip chưa có hồ sơ vận hành thực tế.

Một hướng tháo gỡ là doanh nghiệp hệ thống phối hợp với nhóm thiết kế ngay từ đầu, thống nhất thông số kỹ thuật và cam kết mua sản phẩm khi chip đạt yêu cầu. Các hệ thống camera AI, thiết bị an ninh mạng, hạ tầng điện toán đám mây và trung tâm dữ liệu cũng có thể trở thành môi trường thử nghiệm để đánh giá độ ổn định của chip.

Đây là cách tiếp cận giúp chia sẻ rủi ro giữa nhà nghiên cứu, nhà sản xuất và khách hàng. Nhà nước có thể hỗ trợ hạ tầng dùng chung, một phần kinh phí chế tạo thử, đo kiểm; doanh nghiệp đóng góp nhân lực, công nghệ và vốn; khách hàng tham gia xây dựng yêu cầu, cung cấp môi trường thử nghiệm. Việc hỗ trợ cần gắn với các mốc kỹ thuật cụ thể, có đánh giá độc lập và điều kiện dừng hoặc điều chỉnh nếu sản phẩm không đạt yêu cầu.

Kết nối nghiên cứu, sản xuất và hợp tác quốc tế

Một mắt xích quan trọng trong hệ sinh thái bán dẫn là hạ tầng hỗ trợ doanh nghiệp đi qua các công đoạn nghiên cứu, thiết kế, chế tạo thử và kiểm định. Trung tâm quốc gia hỗ trợ sản xuất thử chip bán dẫn được định hướng cung cấp công cụ thiết kế, thư viện sở hữu trí tuệ, phòng thí nghiệm, dịch vụ đo kiểm và kết nối với các cơ sở chế tạo. Mô hình dùng chung giúp giảm chi phí đầu tư riêng lẻ, tạo điều kiện cho doanh nghiệp nhỏ và nhóm nghiên cứu tiếp cận các dịch vụ vốn có giá thành cao.

Theo thông tin được công bố, Trung tâm đang xây dựng quy trình, tiêu chí và định mức hỗ trợ sản xuất thử; dự kiến hoàn thiện trong nửa đầu năm 2027. Nhà máy sản xuất chip do Viettel đầu tư tại Khu Công nghệ cao Hòa Lạc được kỳ vọng bắt đầu sản xuất thử vào cuối năm 2027, mở thêm khả năng thực hiện một số công đoạn chế tạo trong nước.

TS. Đỗ Anh Tuấn, nhà khoa học chính tại Cơ quan Khoa học, Công nghệ và Nghiên cứu Singapore (A*STAR), cho rằng Việt Nam cần tránh phân tán nguồn lực vào quá nhiều công đoạn. Theo ông Tuấn, Việt Nam nên lựa chọn một số lĩnh vực có tiềm năng để đầu tư chiều sâu, xây dựng đội ngũ nhân lực có năng lực chuyên môn vững chắc và duy trì tầm nhìn dài hạn. Ông cũng nhấn mạnh sự gắn kết giữa cơ quan quản lý, trường đại học và doanh nghiệp để hoạt động đào tạo, nghiên cứu bám sát yêu cầu thực tế của ngành.

Hợp tác quốc tế là một kênh quan trọng để bổ sung năng lực nghiên cứu và tiếp cận công nghệ tiên tiến. Ngày 22/7/2026, Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia (NAFOSTED) công bố kết quả tuyển chọn, ký hợp đồng tài trợ 5 nhiệm vụ hợp tác nghiên cứu Việt Nam - Nhật Bản trong lĩnh vực bán dẫn. Các nhiệm vụ tập trung vào vi mạch tích hợp ba chiều, vật liệu transistor, cảm biến tích hợp, chip AI SoC bảo mật và linh kiện điện tử công suất.

Ở cấp độ doanh nghiệp, Qualcomm đang mở rộng hoạt động nghiên cứu và phát triển tại Việt Nam, hướng tới kết hợp AI, bán dẫn, phần mềm và kỹ thuật hệ thống. Bà An Chen, Phó Chủ tịch phụ trách Công nghệ và R&D của Qualcomm, cho biết tập đoàn hướng tới hỗ trợ đào tạo nhân lực có khả năng tham gia toàn bộ quy trình thiết kế vi mạch, từ kiến trúc, logic đến bố trí vật lý và chế tạo mẫu. Đây là cơ hội để kỹ sư Việt Nam tiếp cận quy trình công nghiệp, nâng cao khả năng phát triển các dòng chip phức tạp.

Một tín hiệu đáng chú ý khác là kế hoạch đầu tư tổ hợp sản xuất chip của Geleximco tại Hưng Yên. Theo thông tin đăng ký đầu tư của địa phương, dự án có tổng vốn khoảng 1.987,5 tỷ đồng, dự kiến hoàn thành xây dựng trong năm 2027, lắp đặt dây chuyền và vận hành thương mại trong quý I/2028. Doanh nghiệp cho biết sẽ ưu tiên thử nghiệm, tích hợp vi mạch điều khiển, cảm biến và chip công suất do kỹ sư Việt Nam thiết kế vào xe điện và hệ sinh thái công nghiệp của tập đoàn.

GS.TS. Trần Xuân Tú, Viện trưởng Viện Công nghệ thông tin, Đại học Quốc gia Hà Nội, nhấn mạnh yêu cầu xây dựng niềm tin kỹ thuật và niềm tin thương mại đối với chip nội địa. Theo ông, sản phẩm cần được kiểm định độc lập, thử nghiệm trong môi trường phù hợp trước khi tích hợp rộng rãi. Quyết định sản xuất hàng loạt phải dựa trên chất lượng và nhu cầu kinh doanh thực tế; doanh nghiệp cần chịu trách nhiệm về sản xuất, bảo hành và thương mại hóa sản phẩm.

“Thị trường chip Việt Nam sẽ hình thành bền vững khi có sự phối hợp của ba chủ thể: Nhà nước tạo cơ chế và hạ tầng, viện trường phát triển công nghệ và nhân lực, doanh nghiệp xác lập nhu cầu và chịu trách nhiệm thương mại. Đơn hàng đầu tiên cần được xem là phép thử về chất lượng, giá thành, độ tin cậy và khả năng cung ứng lâu dài”, GS.TS. Trần Xuân Tú chỉ rõ.

Thanh Hằng

Link gốc

Bình luận