Doanh nghiệp Việt tìm đường vào chuỗi cung ứng toàn cầu
Thực hiện mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân giai đoạn 2026-2030 từ 10%/năm trở lên, thành phố Hải Phòng đã thúc đẩy phát triển năng lực sản xuất trong nước và tăng liên kết giữa doanh nghiệp Việt Nam với các tập đoàn quốc tế.

Dây chuyền sản xuất thiết bị điện ở nhà máy của Công ty TNHH điện khí Wolong Việt Nam, khu công nghiệp An Dương, thành phố Hải Phòng. Ảnh: Vũ Sinh/TTXVN
Từ xưởng cơ khí đến yêu cầu làm chủ công nghệ
Những ngày cuối tháng 10/2026, tại xã Hồng An, thành phố Hải Phòng, hơn 100 kỹ sư, công nhân Công ty Cổ phần Cơ khí và Dịch vụ thương mại An Bình đang tập trung vận hành máy móc, gia công các chi tiết cơ khí chính xác trong nhà xưởng rộng hơn 5.000 m².
Thành lập năm 2013, An Bình chuyên về lĩnh vực gia công cơ khí chính xác, chế tạo khuôn mẫu, đồ gá và các chi tiết phục vụ công nghiệp. Sau hơn một thập kỷ hoạt động, doanh nghiệp đã có quan hệ làm việc với các đối tác Nhật Bản; xuất khẩu sản phẩm sang Hàn Quốc, Mỹ, Thái Lan và Vương quốc Anh.
Giám đốc Công ty Cổ phần Cơ khí và Dịch vụ thương mại An Bình Đỗ Văn Công cho biết, giai đoạn 2026-2027, doanh nghiệp có kế hoạch đào tạo nhân lực và đầu tư thiết bị hiện đại để đáp ứng yêu cầu thị trường quốc tế. “Khi muốn mở rộng quan hệ với khách hàng quốc tế, An Bình phải tăng khả năng làm chủ công nghệ, quản trị sản xuất và bảo đảm tính ổn định của sản phẩm. Năng lực sản xuất phải thể hiện ở khả năng đáp ứng yêu cầu về chất lượng, giá thành và thời hạn giao hàng”, Giám đốc Đỗ Văn Công cho biết.
Ông Đỗ Văn Công cũng đánh giá chính quyền phường Hồng An đã hướng dẫn, giải đáp nhanh các thủ tục khi An Bình có nhu cầu mở rộng nhà xưởng. Sự hỗ trợ kịp thời này giúp doanh nghiệp nắm rõ quy định, chủ động hơn trong kế hoạch sản xuất, đầu tư.
Thực tế của An Bình cho thấy, tiếp cận được thị trường quốc tế mới chỉ là bước đầu. Muốn duy trì đơn hàng, trở thành nhà cung ứng lâu dài, doanh nghiệp phải đảm bảo chất lượng sản phẩm, đáp ứng yêu cầu kỹ thuật và giao hàng đúng hạn. Đây cũng là điều kiện để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn đầu tư nước ngoài.
Thu hút vốn FDI vì thế cần song hành cùng phát triển doanh nghiệp trong nước. Nếu các nhà máy FDI chủ yếu dựa vào nguồn cung ứng bên ngoài, liên kết với nền kinh tế trong nước sẽ bị hạn chế. Ngược lại, khi doanh nghiệp Việt đủ năng lực cung ứng, giá trị từ dòng vốn đầu tư có thể lan tỏa rộng hơn.
Thu hút dự án và yêu cầu kết nối nhà cung ứng Việt
Sau hợp nhất, Hải Phòng đã mở rộng không gian phát triển, có lợi thế về hệ thống khu công nghiệp, khu kinh tế, cảng biển và mạng lưới doanh nghiệp sản xuất. Theo Ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng, thành phố có 50 khu công nghiệp, khu kinh tế. Trong số các dự án được quan tâm có dự án bán dẫn của LG Innotek với vốn đầu tư khoảng 1 tỷ USD. Dòng vốn này có thể bổ sung năng lực sản xuất, tạo thêm cơ hội việc làm, nhưng hiệu quả lan tỏa còn phụ thuộc vào mức độ gắn kết với doanh nghiệp trong nước.
Phó Trưởng ban Quản lý Khu kinh tế Hải Phòng Nguyễn Thị Bích Dung cho biết, định hướng của thành phố là sàng lọc dự án FDI theo tiêu chí về công nghệ, liên kết với doanh nghiệp trong nước và tiêu chuẩn xanh; đồng thời kết nối nhu cầu của nhà đầu tư nước ngoài với năng lực cung ứng nội địa.
Theo hướng này, xúc tiến đầu tư cần xác định doanh nghiệp FDI sẽ mua những sản phẩm, dịch vụ nào tại Việt Nam; doanh nghiệp trong nước có thể tham gia công đoạn nào, còn thiếu những năng lực gì và cần hỗ trợ ra sao.
Hải Phòng cũng phát triển nhà xưởng xây sẵn, bố trí quỹ đất phù hợp cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, khuyến khích doanh nghiệp FDI hỗ trợ đào tạo nhà cung ứng. Hiệu quả các giải pháp cần được đánh giá qua năng lực thực tế, số mối liên kết được hình thành và khả năng duy trì đơn hàng.
Cụ thể hóa định hướng đó, Sở Công Thương Hải Phòng đang chuyển từ hỗ trợ dàn trải sang lựa chọn doanh nghiệp nội địa theo nhu cầu của các tập đoàn đầu chuỗi. Lãnh đạo Sở cho biết: “Một cách tiếp cận cụ thể đang được Sở Công Thương triển khai là xuất phát từ nhu cầu thực tế của các tập đoàn FDI và doanh nghiệp đầu chuỗi để lựa chọn doanh nghiệp nội địa phù hợp, sau đó hỗ trợ nâng cấp năng lực theo đúng yêu cầu của chuỗi cung ứng”.
Ngày 19/8/2026, qua rà soát ban đầu 30 doanh nghiệp, Sở và Samsung Việt Nam thống nhất chọn 5 doanh nghiệp có tiềm năng để ưu tiên tư vấn, cải tiến, hướng tới tham gia Dự án Nhà máy thông minh năm 2027. Cách làm này gắn hoạt động hỗ trợ với nhu cầu thực tế của nhà đầu tư, thay vì triển khai chung chung.
Đây cũng là hướng triển khai phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân và Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Nghị quyết số 68 của Bộ Chính trị xác định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; trong khi Nghị quyết số 10 đặt ra yêu cầu lựa chọn dòng vốn chất lượng, tăng liên kết với doanh nghiệp trong nước và thúc đẩy chuyển giao công nghệ.
Đưa dòng vốn FDI lan tỏa vào nền kinh tế
Nhấn mạnh về thu hút vốn FDI, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã yêu cầu: “Thu hút đầu tư nước ngoài không phải để thay thế nội lực mà để làm mạnh nội lực, nâng cao tự chủ; không chỉ để tăng trưởng nhanh mà để phát triển bền vững, bao trùm và có chất lượng cao”.

Công ty TNHH Công nghiệp chính xác EVA; vốn đầu tư của Hồng Kông (Trung Quốc) tại khu công nghiệp; đô thị VSIP Hải Phòng; chuyên sản xuất linh kiện điện tử cho máy văn phòng. Ảnh: Danh Lam/TTXVN
Từ yêu cầu đó, nhiệm vụ trọng tâm hiện nay không chỉ là thu hút các nguồn lực quốc tế, mà còn phải sử dụng hiệu quả các nguồn lực đã thu hút, kết hợp cùng nội lực của đất nước để hình thành năng lực phát triển mới.
Trong dự kiến kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2027, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng cũng yêu cầu đẩy mạnh cơ cấu lại nền kinh tế, đổi mới mô hình phát triển, phát triển mạnh doanh nghiệp tư nhân, thu hút đầu tư nước ngoài có chọn lọc gắn với chuyển giao công nghệ. Đây là vấn đề đặt ra đối với cả quá trình thu hút đầu tư lẫn việc tổ chức liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước.
Nghị quyết số 10-NQ/TW đặt mục tiêu đến năm 2030 tổng vốn FDI đăng ký đạt khoảng 200-300 tỷ USD, vốn thực hiện đạt 150-200 tỷ USD, tỷ lệ nội địa hóa đạt 45-50% và khoảng 1 vạn doanh nghiệp Việt Nam tham gia mạng lưới cung ứng của doanh nghiệp FDI. Những chỉ tiêu này cho thấy chất lượng thu hút đầu tư phải được nhìn nhận cùng với năng lực tham gia của doanh nghiệp trong nước, thay vì chỉ căn cứ vào tổng vốn đăng ký.
Để hiện thực hoá các mục tiêu, doanh nghiệp trong nước cần được tiếp cận thông tin cụ thể về nhu cầu mua hàng, tiêu chuẩn kỹ thuật và cơ hội kết nối trực tiếp với doanh nghiệp FDI. Doanh nghiệp FDI cần mở rộng hợp tác với nhà cung ứng Việt Nam, còn cơ quan quản lý hỗ trợ kết nối, hướng dẫn tiêu chuẩn và tháo gỡ rào cản. Về phía mình, doanh nghiệp trong nước phải chủ động đầu tư thiết bị, phát triển nhân lực, chuẩn hoá quy trình, nâng cao chất lượng quản trị.
Tăng trưởng GDP từ 10%/năm trở lên trong giai đoạn 2026-2030 là mục tiêu lớn, đòi hỏi nền kinh tế tạo ra những động lực mới và sử dụng hiệu quả các nguồn lực. Khi dòng vốn FDI được kết nối chặt chẽ hơn với khu vực tư nhân trong nước, doanh nghiệp Việt Nam sẽ có thêm cơ hội tham gia sâu hơn vào quá trình sản xuất, cung ứng và tạo ra giá trị gia tăng cao hơn. Đó cũng là cơ sở để củng cố sức cạnh tranh của doanh nghiệp nội địa, tạo sức lan toả cho tăng trưởng và phát triển bền vững.
Hạnh Quỳnh/TTXVN
Bình luận