Điểm nhấn vĩ mô 2021 - 2022
Báo cáo kinh tế - xã hội tháng 9 và 9 tháng vừa được Tổng cục Thống kê công bố cho thấy GDP quý III tăng trưởng âm gần 6,2% và GDP 9 tháng chỉ tăng 1,4%. Trước đó, Ngân hàng Phát triển châu Á (Asian Development Bank) dự báo GDP quý III Việt Nam tăng trưởng 4,2%. Như vậy con số thực đạt thấp hơn rất nhiều.
Về khía cạnh kinh tế vĩ mô
Trước khi dịch bệnh bùng nổ mạnh trong quý 3 này, GDP quý II/2021 của Việt Nam tăng 6,61% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung, GDP 6 tháng đầu năm 2021 tăng 5,64% so với cùng kỳ năm ngoái. Theo đại diện của Tổng cục Thống kê, trong bối cảnh dịch COVID-19 diễn biến phức tạp, nền kinh tế duy trì được mức tăng trưởng 5,64% và đây là mức tăng trưởng khá so với các nước trong khu vực và trên thế giới; kinh tế vĩ mô ổn định, lạm phát được kiểm soát ở mức thấp.

Toàn cảnh tăng trưởng GDP theo quý và năm từ 2017-2021
Cung cầu hàng hóa trong nước được bảo đảm, hoạt động mua sắm hàng hóa, tiêu dùng và xuất khẩu tăng cao. Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản có mức tăng trưởng khá cao khẳng định việc chuyển đổi cơ cấu ngành đã phát huy hiệu quả, bảo đảm nguồn cung lương thực, thực phẩm, hàng hóa thiết yếu.
Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa 6 tháng đầu năm cũng đạt 157,63 tỷ USD, tăng 28,4% so với cùng kỳ năm trước. Nhu cầu hàng hóa trên thị trường thế giới đang hồi phục trở lại và đây là cơ hội để Việt Nam đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa, đặc biệt là các doanh nghiệp tận dụng tốt Hiệp định thương mại tự do đã được ký kết.

Bước sang quý III với quá nhiều thách thức dành cho các doanh nghiệp đang hoạt động, sự dự báo về suy giảm trong sức tăng trưởng của GDP là có cơ sở và có thể thấy rõ khi nền kinh tế đã có thời điểm đóng cửa ở hai thành phố lớn nhất cả nước Hà Nội, Hồ Chí Minh và nhiều tỉnh thành khác trên đất nước. Các khó khăn đó trực tiếp đã phản ánh qua các con số khi GDP quý III tăng trưởng âm gần 6,2% và GDP 9 tháng chỉ tăng 1,4%
3 tháng qua, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 1.04%; khu vực công nghiệp và xây dựng giảm 5.02%; khu vực dịch vụ giảm 9,28%. Về sử dụng GDP quý III/2021, tiêu dùng cuối cùng giảm 2.83% so với cùng kỳ năm trước; tích lũy tài sản tăng 1.61%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 2.51%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 10.75%.
Trong mức tăng chung của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 2,74%, đóng góp 23,52%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 3,57%, đóng góp 98,53%; khu vực dịch vụ giảm 0,69%, làm giảm 22,05%. Về sử dụng GDP 9 tháng năm 2021, tiêu dùng cuối cùng tăng 1.6% so với cùng kỳ năm 2020; tích lũy tài sản tăng 4.27%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 14.21%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 18.46%.
Về cơ cấu nền kinh tế 9 tháng năm 2021, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 12.79%; khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 38.03%; khu vực dịch vụ chiếm 40.19%; thuế sản phẩm trừ trợ cấp sản phẩm chiếm 8.99%.

Ảnh hưởng của covid tới kinh tế vĩ mô cả năm nói chung và quý III/2021 nói riêng là rất lớn, lũy kế 9 tháng tính tới 29/9/2021 cả nước có khoảng 90.300 doanh nghiệp rời khỏi thị trường. Trong đó số doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn là 45.100 doanh nghiệp, tăng 16,7% so với cùng kỳ năm trước; 32.400 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ làm thủ tục giải thể, tăng 17,4%; 12.800 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 5,9%. Như vậy bình quân một tháng, có hơn 10.000 doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường. Và mỗi ngày có khoảng hơn 330 doanh nghiệp ngừng hoạt động.
Riêng trong tháng 9/2021, cả nước có 3.899 doanh nghiệp thành lập mới với số vốn đăng ký là 62.400 tỷ đồng và số lao động đăng ký là 49.900 lao động, giảm 32,3% về số doanh nghiệp, giảm hơn 8% về vốn đăng ký và tăng 15% về số lao động so với tháng trước. Còn so với cùng kỳ năm 2020, con số này giảm 62,2% về số doanh nghiệp, giảm 69,3% về số vốn đăng ký và giảm gàn 40% về số lao động.
Lý giải cho tình trạng này chính là vì dịch COVID-19 kéo dài đã làm nhiều doanh nghiệp phải đối mặt với nguy cơ phá sản do hoạt động kinh doanh bị tác động tiêu cực, chuỗi cung ứng trong nước và quốc tế bị đứt gãy do các đợt giãn cách liên tiếp.
Dù vậy, quý 4 được dự đoán sẽ quay về khoảng thời gian “bình thường mới” của nền kinh tế khi tình hình dịch tễ được kiểm soát chặt chẽ hơn và tỷ lệ tiêm vaccine được đẩy mạnh. Tính tới ngày 21/9 cả nước đã tiêm 35,1 triệu liều vaccine phòng-chống Covid và sẽ còn tiếp tục đẩy mạnh khi được viện trở từ Mỹ, Cuba… Kỳ vọng vào mức tăng trưởng cao trở lại được thể hiện rất rõ khi bức tranh kinh tế trong quý cuối năm lại được đánh giá "bật tăng nhanh trở lại" do lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, đầu tư và tiêu dùng lâu nay bị kìm nén sẽ tăng trưởng tốt khi nền kinh tế được mở cửa trở lại.
Về khía cạnh tài chính – đầu tư
Về khía cạnh tài chính đầu tư nói riêng, dù cũng ảnh hưởng lớn bởi dịch Covid-19 nhưng Việt Nam vẫn là một thị trường được đánh giá cao bởi các chuyên gia:
Theo tổng cục thống kê lạm phát vẫn chỉ 1,82%, lạm phát lõi chỉ dưới 1%. Có thể nói, dù các gói cứu trợ tiền mặt được đưa ra khá nhiều để giúp đỡ các doanh nghiệp cũng như giá hàng hóa tăng do cước phí vận chuyển (phát sinh từ đứt gãy chuỗi cung ứng), lạm phát Việt Nam được kiếm soát cực tốt và không phải là vấn đề nên lo lắng hiện nay.
Đề cập đến góc nhìn của nhà đầu tư nước ngoài, nhà đầu tư nước ngoài đánh giá thị trường thông qua chỉ số CDS (Credit default swap, CDS được xem như một công cụ phòng vệ rủi ro tài chính, là loại hợp đồng bảo hiểm). Hiện chỉ số này đang giảm liên tục, về mức tương đối thấp. Như vậy, bất chấp bị ảnh hưởng nặng nề bởi làn sóng dịch Covid lần thứ 4, nhà đầu tư nước ngoài vẫn đánh giá, rủi ro quốc gia của Việt Nam đang ở mức thấp.
Nhìn về vị thế kinh tế và tiền tệ, các chuyên gia cho biết, dự trữ ngoại hối vẫn ở mức tốt (khoảng 100 tỷ USD), tỷ giá tiền VND rất ổn định, thậm chí tăng giá so với tiền USD. Cán cân thương mại thâm hụt trong năm nay, nhưng sẽ thặng dư trong năm sau. Tỷ lệ lạm phát sẽ được duy trì ở mức thấp khoảng 3,5% trong năm 2022.
Từ 3 điểm sáng về kinh tế kỹ mô, các chuyên gia kỳ vọng, Chính phủ sẽ tiếp tục bơm tiền mạnh để kích thích kinh tế trong bối cảnh lạm phát không đáng lo ngại và hỗ trợ tăng trưởng kinh tế

Tỷ lệ lạm trong tháng 9 ở mức 2,06%.
Về các ngành nghề cụ thể, Covid-19 tác động cơ bản tới nhiều ngành nghề trong dài hạn. Để du lịch, vận tải hành khách và nhà hàng có thể hoạt động bình thường có thể mất tới 12-18 tháng do tâm lý người lao động cũng chưa sẵn sàng trở lại tâm lý khách hàng vẫn còn tiềm ẩn nhiều lo sợ khi nói về bệnh dịch.
Ngược lại, bất động sản, khu công nghiệp, tài chính ngân hàng, vật liệu xây dựng lại mang một màu sắc tích cực trong quý cuối năm và 2022. Các ngành được dự báo sẽ hưởng lợi lớn sau khi mở cửa nhờ đẩy mạnh giải ngân đầu tư công trong thời gian tới, khi mức giải ngân đầu tư công tính đến tháng 9 mới chỉ ghi nhận ở mức dưới 40%. Chính phủ buộc phải đẩy mạnh đầu tư công và đẩy mạnh sản xuất để nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng.
Bài viết dưới đây chỉ mang tính chất tham khảo và không đưa ra các khuyến nghị đầu tư.
Bình luận