Câu chuyện xuất khẩu thủy hải sản
Gắn thẻ
3 mã
I. Bối cảnh
- Xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam từ năm 2018 đến nay bị tác động giảm vì các yếu tố như nhu cầu và giá nhập khẩu tại một số thị trường chính sụt giảm, các rào cản kỹ thuật và thuế quan, các pháp chế như thẻ vàng IUU (Illegal, Unrepoted and Unregulated Fishing) hay đặc biệt là dịch Covid làm đứt gãy chuỗi cung ứng và tiêu thụ trong 2 năm qua. Tuy nhiên, trong bối cảnh đó, mức độ sụt giảm xuất khẩu của Việt Nam không bị lao dốc vì có bệ đỡ là các hiệp định FTA từ 2018 đến nay, trong đó có hiệp định CPTPP và EVFTA.
1. CPTPP
Các nước trong CPTPP hay Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương cam kết dỡ bỏ 95% các loại thuế quan giữa 11 quốc gia thành viên tham gia gồm Australia, Brunei, Canada, Chile, Nhật Bản, Malaysia, Mexico, New Zealand, Peru, Singapore và Việt Nam.
- Đây là thị trường chiếm tới 28% thị phần xuất khẩu thủy hải sản của Việt Nam trong 2021; sau khi hiệp định CPTPP có hiệu lực từ 2018, xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam sang khối thị trường này tăng trưởng gần 3% trong năm 2019 (theo VASEP – Hiệp hội chế biến và xuất khẩu thủy hải sản Việt Nam).
- Sang năm 2020 và 2021, XK thuỷ sản sang khối CPTPP sụt giảm 2% chủ yếu do tác động Covid làm ảnh hưởng giao thương và làm giảm nhu cầu nhập khẩu của các nước thành viên, cước phí vận tải tăng, thiếu container vận chuyển ...
2. EVFTA
Hiệp định Thương mại tư do giữa Việt Nam – EU. Kể từ khi có hiệu lực ngày 1/8/2020, Hiệp định EVFTA đã cho thấy những đóng góp có ý nghĩa trong phát triển kinh tế giữa Việt Nam và EU, đặc biệt là sự tăng trưởng của Việt Nam. Những thay đổi trong quan hệ xuất nhập khẩu song phương là minh chứng điển hình. Theo Bộ Công Thương, 5 tháng cuối năm 2020, tỷ lệ kim ngạch xuất khẩu sử dụng được ưu đãi thuế quan theo EVFTA của Việt Nam là 14,8%.
- Trước khi Hiệp định EVFTA có hiệu lực, trong 7 tháng năm 2020, xuất khẩu của Việt Nam sang EU giảm 5,9% so với cùng kỳ 2019. Nhưng khi hiệp định có hiệu lực, trong 5 tháng cuối năm 2020, trong khi nhập khẩu của EU từ thế giới sụt giảm tới 20%, thì EU nhập khẩu từ Việt Nam tăng 3,8%. 6 tháng đầu năm 2021, xuất khẩu từ Việt Nam sang EU vẫn tăng liên tục và ổn định, ở mức 18,3% so với cùng kỳ.

- Vượt lên nhiều thách thức trong giai đoạn bệnh dịch, xuất, nhập khẩu đạt kỷ lục gần 670 tỷ USD, tăng gần 23% so với năm trước, trở thành điểm sáng của nền kinh tế và đưa Việt Nam vào nhóm 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại quốc tế; trong đó xuất khẩu có sự bứt phá ngoạn mục, tăng trên 19% (vượt 15% so với kế hoạch đề ra), duy trì xuất siêu năm thứ 6 liên tiếp với mức thặng dư trên 4 tỷ USD.
- Bên cạnh đó, Việt Nam đã xuất siêu chủ yếu vào thị trường các nước phát triển, có yêu cầu khắt khe về chất lượng đối với hàng hóa nhập khẩu như Hoa Kỳ (xuất siêu trên 80 tỷ USD); EU (xuất siêu trên 28 tỷ USD). Trong năm 2021, dù có đến 4-5 tháng bị ảnh hưởng do dịch COVID-19, nhưng riêng ngành thủy sản Việt Nam đã thoát hiểm ngoạn mục, xuất khẩu đạt 8,89 tỉ USD tăng 5,7% so với năm 2020 với 8,41 tỷ USD; tương đương 8,73 triệu tấn, tăng 1% so với năm 2020 với 8,64 triệu tấn.
II. Tầm nhìn và kỳ vọng
- Bước vào 2022, Ngành xuất khẩu thủy hải sản tiếp tục nhận được kỳ vọng cao, Phó Tổng Cục trưởng Tổng cục Thủy sản Nguyễn Quang Hùng nhận định, tình hình dịch bệnh COVID-19 vẫn còn diễn biến phức tạp thì khó khăn, thách thức còn là yêu cầu ngày càng cao về an toàn thực phẩm và truy xuất nguồn gốc của các thị trường.
- Về kế hoạch năm 2022, mục tiêu phấn đấu của ngành thủy sản cơ bản duy trì ổn định tổng sản lượng thủy sản, trong đó điều chỉnh giảm dần sản lượng khai thác, tăng sản lượng nuôi trồng và triển khai mạnh các giải pháp để tăng giá trị đối với cả sản lượng nuôi và khai thác để tăng giá trị sản xuất đối với với sản phẩm thủy sản, đáp ứng mục tiêu tăng trưởng.
- Toàn ngành vẫn đặt ra chỉ tiêu tổng sản lượng thủy sản năm nay đạt khoảng 8,73 triệu tấn, kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt khoảng 9 tỉ USD. Trong đó, sản lượng khai thác khoảng 3,78 triệu tấn, bằng 96,4%; sản lượng nuôi trồng 4,95 triệu tấn, bằng 103% so với năm 2021.
- Trong đó các mặt hàng tỷ trọng lớn trong ngành cũng có các con số kỳ vọng cụ thể:
o Sản lượng cá tra 1,6 triệu tấn.
o Tôm nước lợ 950 nghìn tấn.
III. Thực tiễn
- Thị trường xuất khẩu trở thành điểm tựa phát triển cho kinh tế Việt Nam khi tăng trưởng xuất khẩu 19% cả năm. Ngành thủy sản vẫn duy trì tăng trưởng, tuy nhiên có sự phân hóa lớn giữa các doanh nghiệp trong ngành dựa trên khả năng tự chủ sản xuất, tương ứng với đó là triển vọng về giá cổ phiếu cũng khác nhau.
- Trong đó không thể không nhắc tới VHC, FMC hay ANV…
o Cổ phiếu VHC hiện giao dịch ở mức P/E dự phóng cho năm 2021 và 2022 lần lượt là 12,3 lần và 10,3 lần, đều là các mức cao so với mức P/E trung bình trong quá khứ. Đây là mức giá đã phản ánh tương đối giá trị hợp lý của VHC. Tuy nhiên, tiềm năng tăng trưởng trong tương lai của VHC vẫn còn rất lớn với những dự án lớn mở rộng vùng nguyên liệu cũng như xây dựng chuỗi giá trị khép kín.
o Cổ phiếu FMC có doanh thu ước tính đạt hơn 4.850 tỷ đồng trong 2021, bằng 112% so năm 2020. Lợi nhuận ước đạt trên 280 tỷ đồng, tăng trên 15% so năm 2020. Đây là con số lãi cao nhất trong lịch sử 26 năm hoạt động của công ty. Năm 2022, doanh nghiệp sẽ đưa Nhà máy thủy sản Sao Ta với công suất 15.000 tấn/năm và Nhà máy chế biến tôm Tam An, công suất 5.000 tấn/năm vào hoạt động.
Bình luận (21)