Bộ trưởng Tài chính: Hỗ trợ đầu tư phải gắn với kết quả đầu ra
Đối với chính sách ưu đãi đầu tư đặc biệt, Bộ trưởng Bộ Tài chính cho biết sẽ tiếp thu tối đa để làm sao mà việc hỗ trợ đầu tư phải gắn với kết quả đầu ra và phải kiểm tra, giám sát và lượng hóa được.
Sáng 2/11, tiếp tục chương trình Kỳ họp thứ 2, Quốc hội thảo luận tại hội trường về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư.
Bổ sung cơ chế giám sát, đánh giá
Tham gia góp ý kiến, ĐBQH Nguyễn Khánh Ngọc (đoàn Tp.Đà Nẵng) đã đề cập đến sứ mệnh của Luật Đầu tư, mối quan hệ giữa Luật Đầu tư với các luật khác, cũng như việc sửa đổi, bổ sung luật thường xuyên có thể ảnh hưởng đến tính ổn định của hệ thống pháp luật và môi trường đầu tư, kinh doanh.
Đại biểu đề nghị Chính phủ trong nhiệm kỳ này sẽ có tổng kết, đánh giá liên quan tới vị trí, vai trò, sứ mệnh, mối quan hệ của Luật Đầu tư với các luật khác phù hợp với bối cảnh, tình hình mới.
Đại biểu cũng đánh giá cao Bộ Tài chính đã có báo cáo với 70 trang, tiếp thu nhiều ý kiến của ĐBQH. Trong đó, đại biểu đồng tình với cách tiếp cận thận trọng khi xem xét mở rộng các ưu đãi theo nguyên tắc "chỉ tiến, không lùi".
Việc sửa sửa đổi, bổ sung lần này cũng nhằm thể chế Nghị quyết số 10-NQ/TW, ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài, trong đó rất nhiều định hướng để thu hút đầu tư.
Về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt tại Điều 17, đại biểu cơ bản đồng tình với cách tiếp cận hiện nay. Theo đó, khoản 1 xác định các mục tiêu của cơ chế ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt, gồm thúc đẩy hiệu ứng lan tỏa, phát triển kinh tế - xã hội, phát triển khoa học, công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế quốc gia. "Đây đều là những mục tiêu chính đáng, cần thiết và đáng lẽ phải được đặt ra từ sớm.

ĐBQH Nguyễn Khánh Ngọc (Ảnh: Media Quốc hội).
Tuy nhiên, khi cụ thể hóa các quy định tại những điều khoản khác, một số nội dung có nguy cơ dẫn đến tình trạng dàn trải, gây khó khăn trong quá trình áp dụng.
Đại biểu đồng tình với nguyên tắc áp dụng nhằm bảo đảm hiệu quả thực thi, nhưng đại biểu đề nghị quy định rõ ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt chỉ áp dụng đối với phần đầu tư mở rộng của dự án hiện hữu.
Bên cạnh đó, đại biểu bày tỏ băn khoăn về tính khả thi, tính thực chất và hiệu quả của cơ chế ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt trong việc hiện thực hóa các mục tiêu tại khoản 1 Điều 17.
Theo đại biểu, năng lực của các cơ quan quản lý đầu tư tại địa phương vẫn còn những hạn chế. Ngay từ khâu thẩm định, việc xác định nhà đầu tư có đủ năng lực, nguồn vốn và công nghệ để triển khai dự án theo yêu cầu đã là một thách thức.
Đối với cơ chế thực hiện cam kết, đại biểu đồng tình với nguyên tắc Chính phủ và nhà đầu tư phải có những cam kết cụ thể, trong đó nhà đầu tư có trách nhiệm thực hiện đúng các cam kết đã đưa ra. Trường hợp không đáp ứng yêu cầu, cơ quan có thẩm quyền có thể xem xét thu hồi, hủy bỏ hoặc điều chỉnh các ưu đãi theo quy định.
Tuy nhiên, từ thực tiễn triển khai, đại biểu cho rằng việc thực hiện cơ chế này không đơn giản. Khi một dự án đã được chính quyền địa phương phê duyệt, việc quyết định rút lại ưu đãi, chấm dứt hoặc kết thúc dự án sẽ gặp nhiều khó khăn.
Mặt khác, việc điều chỉnh hoặc rút lại các cam kết đầu tư còn liên quan đến những cam kết quốc tế. "Nếu không có quy định chặt chẽ ngay từ đầu, đồng thời thiếu cơ chế giám sát, đánh giá thực chất, nguy cơ phát sinh khiếu kiện là khó tránh khỏi", đại biểu nêu.
Đại biểu Nguyễn Khánh Ngọc cũng nhận định, nếu áp dụng đúng và chặt chẽ các tiêu chí tại khoản 1 Điều 17 thì số lượng dự án đáp ứng điều kiện hưởng ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt có thể không nhiều.
Từ những vấn đề trên, đại biểu Nguyễn Khánh Ngọc đề nghị Chính phủ cân nhắc bổ sung cơ chế giám sát, đánh giá ở cấp Trung ương, thậm chí giao cơ quan cấp Trung ương thực hiện việc giám sát, đánh giá và kết luận dự án nào đáp ứng các tiêu chí để được hưởng ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt.
Ưu đãi đầu tư gắn với kết quả đầu ra
Cùng tham gia góp ý kiến về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đặc biệt tại Điều 17, ĐBQH Nguyễn Ngọc Sơn (đoàn Tp.Hải Phòng) cho biết, dự thảo đã tập trung ưu đãi đặc biệt vào công nghệ chiến lược, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, trung tâm dữ liệu, logistics quốc tế, và gắn việc hưởng ưu đãi với cam kết chuyển giao công nghệ, nghiên cứu và phát triển, đào tạo nhân lực, hỗ trợ doanh nghiệp trong nước. Theo đại biểu, đây là bước chuyển đúng hướng.

ĐBQH Nguyễn Ngọc Sơn (Ảnh: Media Quốc hội).
Song theo đại biểu, khoản 2 Điều 17 vẫn lấy quy mô vốn và thời hạn giải ngân làm điều kiện đầu vào.
Quy mô vốn là cần thiết nhưng không phản ánh chất lượng dự án. Một dự án vốn lớn nhưng dựa chủ yếu vào đất đai, năng lượng, lao động giá rẻ chưa chắc đóng góp nhiều hơn một dự án vốn vừa phải nhưng sở hữu công nghệ lõi và hình thành được hệ sinh thái doanh nghiệp. Đặc biệt, các dự án thiết kế chip, phần mềm, trí tuệ nhân tạo, nghiên cứu và phát triển, nơi tài sản chủ yếu là tri thức rất khó đạt ngưỡng vốn nếu tính theo tài sản cố định.
Đại biểu Sơn đề nghị Luật quy định nguyên tắc: ngưỡng vốn được xác định riêng theo từng nhóm lĩnh vực; chi phí nghiên cứu và phát triển, chi phí nhân lực trình độ cao được tính vào quy mô đầu tư; quy mô vốn phải kết hợp với trình độ công nghệ, giá trị gia tăng trong nước, hiệu quả sử dụng tài nguyên, năng lượng và mức độ liên kết.
Về thu hồi ưu đãi, đại biểu đồng tình với nguyên tắc bắt buộc thu hồi, nhưng đề nghị thiết kế cơ chế xử lý tương xứng.
"Cố ý kê khai không trung thực hoặc không thực hiện cam kết thì phải thu hồi toàn bộ; chậm thực hiện do nguyên nhân khách quan, do biến động lớn của thị trường và công nghệ thì điều chỉnh mức ưu đãi, thu hồi phần tương ứng với nghĩa vụ chưa thực hiện. Có như vậy, chính sách mới vừa nghiêm, vừa khả thi, và không đẩy cơ quan thực thi vào thế phải lựa chọn tùy nghi", đại biểu nêu ý kiến.
Cuối phiên thảo luận, giải trình, làm rõ ý kiến các ĐBQH nêu, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh yêu cầu nâng cao chất lượng thu hút đầu tư, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cho biết, dự thảo Luật lần này đặc biệt quan tâm đến việc gắn hoạt động đầu tư với sản xuất trong nước, thông qua các tiêu chí về sự tham gia của doanh nghiệp Việt Nam trong chuỗi giá trị của các tập đoàn.

Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn (Ảnh: Media Quốc hội).
Đối với chính sách ưu đãi đầu tư đặc biệt, bên cạnh quy mô, thời gian và lĩnh vực ưu đãi, các đại biểu Quốc hội cũng nhấn mạnh việc kiểm soát trên cơ sở kết quả đầu ra.
"Chúng tôi sẽ tiếp thu tối đa để làm sao mà việc hỗ trợ đầu tư phải gắn với kết quả đầu ra và phải kiểm tra, giám sát và lượng hóa được", Bộ trưởng nhấn mạnh.
Theo Bộ trưởng, việc thiết kế chính sách cũng sẽ hoàn thiện về điều kiện chấm dứt hỗ trợ trong trường hợp nhà đầu tư không đáp ứng các yêu cầu, điều kiện đã cam kết sau khi nhận ưu đãi. Cơ quan soạn thảo sẽ nghiên cứu, tiếp thu để có cơ chế phù hợp, vừa bảo đảm hiệu quả chính sách, vừa hạn chế nguy cơ phát sinh khiếu kiện, tranh chấp đầu tư quốc tế.
Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cũng đồng tình với ý kiến đại biểu về việc cần tổng kết, đánh giá tổng thể phạm vi, đối tượng điều chỉnh của Luật Đầu tư, làm rõ sự khác biệt giữa điều kiện đầu tư kinh doanh và điều kiện tiếp cận thị trường. Việc phân định rõ các nội dung này sẽ góp phần bảo đảm sự phù hợp, thống nhất giữa Luật Đầu tư với các luật khác, đồng thời nâng cao tính ổn định lâu dài của Luật.
Hoàng Thị Bích
Bình luận